Monthly Archives: October 2012

Truong trung hoc cong lap Dong Ha trong ky uc toi

(Bài viết của Thầy Hoàng Đằng)

Trường trung học công lập Đông Hà

trong ký ức tôi

 image001

 (Thầy Hoàng Đằng)

Tôi dạy tại trường trung học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị. Quê tôi là Đông Hà và gia đình tôi ở đó.

Đoạn đường Đông Hà – Quảng Trị chỉ dài 13 km, vậy mà thời ấy  việc đi lại rất khó khăn. Phương tiện riêng không có, tôi phải vô ra bằng “xe đò”. Buổi sáng, xe đò không thể chạy sớm. Ban đêm, lực lượng giải phóng đắp giữa đường một vài ụ đất, thường thấy nhất là đoạn từ cầu Lai Phước đến cầu Ái Tử; xe không dám qua, phải chờ rà mìn xong đường mới thông. Buổi chiều, xe đò cũng sớm ngừng vận chuyển vì ít khách và chủ xe sợ gặp điều “không may”; thời buổi chiến tranh mà! Trên đường chỉ có xe quân sự với hai hàng lính cầm súng chĩa ra 2 bên thành xe. Việc đi lại rắc rối như thế, tôi đã xin thuyên chuyển ra trường trung học công lập Đông Hà từ hè năm 1970.

Tôi nhận nhiệm vụ ở đây từ năm học 1970 – 1971; trường phân công dạy Pháp Văn cho một lớp 9 và Việt Văn 2 lớp 7.

Hiệu trưởng trường là thầy Phạm Đăng Thiêm, bạn học của tôi ở Viện Hán Học – Huế từ năm 1960 – 1965. Thầy là hậu duệ ngài Phạm Đăng Hưng, một đại thần đầu triều Nguyễn và cũng là ông ngoại vua Tự Đức (1847 – 1883). Xuất thân con dòng cháu giống như thế, thầy thừa hưởng trong máu thịt cốt cách con nhà quan sống tử tế: điềm tĩnh, ít nói, nhỏ nhẹ, từ tốn, xử lý công việc có lý có tình, tốt với đồng nghiệp, thương yêu đối với học sinh. Thầy có hồn thơ; thời ấy, thơ thầy có đăng rải rác trên một số tạp chí văn học ở Sài Gòn.

Trường có 6 lớp: 2 lớp 6, 2 lớp 7, 01 lớp 8 và 01 lớp 9. Học sinh là con em cư dân khu thị tứ và các làng lân cận. Gần gũi nhau, quen biết nhau và mức chênh lệch giàu nghèo không lớn, học sinh sống tình cảm với nhau, có nghịch ngợm nhưng vẫn dễ thương; đua nhau học tập như thử muốn tranh thủ cái cơ may mà mình có được trong thời buổi chiến tranh.

Cơ sở của trường là một dãy nhà lợp tôn gồm 5 phòng (?), xoay mặt về hướng đông. Bốn phòng là phòng học, còn phòng đầu hồi phía nam làm phòng “đa năng”; phòng làm việc của hiệu trưởng cũng đây, phòng hành chánh cũng đây, phòng giám thị cũng đây, phòng giáo sư cũng đây; lại còn là phòng luyện tập thể thao nữa chứ ! Hội đồng hiệu đoàn đặt một bàn ping-pong để học sinh và giáo sư luyện tập và thi đấu. Trang thiết bị chỉ có một bàn máy chữ cũ và một tủ đụng hồ sơ bằng gỗ.

Ngoài thầy hiệu trưởng, trường có 3 nhân viên văn phòng kiêm nhiệm công tác giám thị: thầy Nguyễn Đức Dục phụ trách hồ sơ nhân viên, thầy Phạm Sinh Châu phụ trách hồ sơ kế toán và thầy Cáp Đà phụ trách văn thư; trường có một lao công (phu trường) là bác Lê Đới phụ trách bảo vệ, vệ sinh phòng ốc, nước uống cho thầy cô. Trong thời gian tôi công tác, ngoài tôi ra, trường có các thầy cô sau đây: Phạm Đăng Thiêm, Lê Văn Chính, Thái Tăng Ánh, Lê Văn Đậu, Nguyễn Tài Thiết, Hồ thị Soa, Phan thị Liên Hương, Phạm Hòa Việt, Hồ Sĩ An, Lê Văn Toàn. Trước đó, có các thầy cô: Lưu Văn Thuật, Võ Văn Di, Nguyễn Thiện, Nguyễn Hiếu, Nguyễn thị Kim Oanh, Nguyễn huy Thọ, thầy … Nhiều, cô … Mùi, Ngô Khôn Liêu, Trần Duy Lộc. Giai đoạn trường ở Hòa Long và Mỹ Chánh, tôi không biết thầy cô có những ai vì tôi đã chuyển qua trường Triệu Phong ở Hòa Khánh.

Thiết kế xây dựng của trường rất đơn sơ. Tường gạch chỉ xây lên khoảng 1/3, 2/3 trên đóng khung gỗ để  thoáng, Nguyễn Đức Trực đã thi vị hóa hình ảnh này bằng câu thơ: “ …Gió luồn khung lưới vách trên vào phòng …”. Cơ sở vật chất của trường Đông Hà tệ nhất so với các trường trong tỉnh Quảng Trị thời đó.

Tỉnh Quảng Trị hồi ấy có 5 trường trung học công lập: trung học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ (mở năm 1951), trung học Gio Linh (mở năm 1959), trung học Cam Lộ, trung học Triệu Phong, trung học Hải Lăng (mở năm 1960) và trung học Đông Hà (mở năm 1962). Trường Đông Hà mở sau có lý do của nó: Thời ấy, cứ mỗi quận (huyện) có một trường trung học; Đông Hà chỉ là một thị tứ thuộc quận Cam Lộ; mãi đến năm 1968 (?), quận Đông Hà mới được lập, gồm khu thị tứ cũ, các xã Cam Thanh, Cam Giang của huyện Cam Lộ, đổi tên thành Đông Thanh, Đông Giang và các xã Triệu Lương, Triệu Lễ của quận Triệu Phong, đổi tên thành Đông Lương, Đông Lễ.

Người đời thường nói: “… sinh sau đẻ mượn mất nhờ mẹ cha”. Những năm học đầu, trường mượn tạm các nơi để tổ chức các lớp học. Không có cơ sở, trường không phát triển; từ năm 1962 đến năm 1969, mỗi khối chỉ có một lớp.

Năm học 1969 – 1970, trường mới có cơ sở riêng, ổn định. “An cư lạc nghiệp”, trường Đông Hà, trong 7 năm, không an cư vậy mà vẫn lạc nghiệp, tài giỏi đáng nể! Thầy vẫn dạy tốt, trò vẫn học tốt; bằng chứng: chuyển lên bậc học đệ nhị cấp (cấp 3), học sinh trường Đông Hà vào các trường lớn không thua ai trong học tập.

Về việc xây trường, hình như nhà chức trách thời ấy không mặn mà lắm. Chiến tranh mỗi ngày mỗi dữ dội, tần số pháo kích vào thị tứ khá dày, xây trường lên sợ … oằm một cái là tiêu tan – “dã tràng xe cát. Đất đai trong thị tứ không nơi nào còn đủ rộng để xây trường; mặt tây và nam của thị tứ là căn cứ quân sự, mặt đông và bắc là ruộng đồng, làng mạc, không thuộc quyền quản lý của thị tứ, việc trưng thu, trưng mua không dễ dàng gì. Nghe nói có hồi trường định xây trên bãi rác cũ của quân đội Pháp thời chiến tranh Việt – Pháp (1946 – 1954) thuộc lãnh thổ làng Điếu Ngao nằm mạn đông quốc lộ I cách khu thị tứ khoảng 500 mét về hướng nam. Sau lại thôi, chắc không thuận tiện. Cuối cùng, trường đã xây tại sân vận động cũ của thị tứ Đông Hà. Một dãy nhà đơn sơ nằm trơ trọi giữa bãi cỏ, không cây cối gì để có bóng im , rào giậu không có, chỉ có thép gai bùng nhùng của cái đồn lính trước mặt. Đầu năm 1972, trường có xây cái cổng trông ra quốc lộ 9, tiếc là xây xong “nhìn chưa sửa con mắt” thì chạy. Dầu vậy, trường cũng mon men phát triển bậc học đệ nhị cấp (cấp 3); năm học 1971 – 1972, lớp 10 đầu tiên của trường được khai giảng.

Tội nghiệp! cơ sở trường chỉ tồn tại chưa đầy 3 năm học: 1969 – 1970; 1970 – 1971 và 1971 – 1972. Tháng 3 năm 1972, những trận đánh quyết liệt đã diễn ra trên thị tứ Đông Hà; thầy trò không kịp nói với nhau một lời chia tay, tay xách nách mang, lên đường lánh bom đạn.

Năm học 1972 – 1973, một số thầy trò tụ tập về khu tạm cư Hòa Long (Đà Nẵng) lập lại trường; dùng doanh trại quân đội Mỹ đã rút đi bỏ lại làm phòng học. Ở Đà Nẵng, gần đâu học đấy, trường nhận học sinh có quê gốc đủ các nơi trong tỉnh Quảng Trị, trường mang tên Đông Hà mà không phải Đông Hà, kiểu “nói dzậy mà không phải dzậy”. Học sinh tới lớp một tay cầm sách vở, một tay cầm ghế tự đóng để ngồi học. Đáng thương chưa!

Qua năm học 1974 – 1975, trường dời về  Mỹ Chánh; nơi đây, có một số dân quận Đông Hà cũ về định cư. Việc trường đặt tại Mỹ Chánh cũng do Sở Học Chánh Quảng Trị phân công vùng trách nhiệm giáo dục trung học khi lãnh thổ tỉnh Quảng Trị thuộc quyền chính phủ Sài Gòn bị thu nhỏ sau chiến cuộc 1972: từ bắc vô, trường Triệu Phong ở Ngô Xá, trường Hải Lăng ở Diên Sanh, trường Nguyễn Hoàng ở khu thị tứ Hải Lăng, trường Đông Hà ở Mỹ Chánh. Tháng 3 năm 1975, chiến sự tái phát dữ dội, trường giải thể. Khi tình hình tạm ổn định, phần lớn thầy và trò chuyển qua dạy và học dưới nhà trường thuộc chế độ mới.

Trường sống được 13 năm, chết đang tuổi thiếu niên – một thiếu niên “cặng cọt”. Mười năm ở Đông Hà và 3 năm lưu lạc. Trường qua 5 “triều đại” hiệu trưởng:  “triều đại” thầy NGUYỄN VĂN QUỲNH khi trường mới mở, “Triều đại” thầy Lưu Văn Thuật, “triều đại” thầy Võ Văn Di, “triều đại” thầy Nguyễn Thiện và “triều đại” thầy Phạm Đăng Thiêm. “Triều đại” thầy Thiêm lâu nhất, những 8 năm (1967 – 1975). Học sinh từ trường mà ra cũng được mấy ngàn, hiện tại  rải khắp “năm châu bốn biển”, nhiều người thành đạt trong nhiều lãnh vực khác nhau; có điều là dù đi đâu, ở đâu, làm gì, học sinh trường Đông Hà luôn giữ trong lòng hình ảnh ngôi trường tràn đầy nghĩa thầy tình bạn.

 

Những dòng trên đây chỉ là cố gắng của tôi trong việc dựng lại chân dung trường. Tôi là kẻ đến sau, thời gian công tác ở trưởng chưa đầy 2 năm học : 1970 – 1971 và 1971 – 1972; lại thêm, bây giờ tuổi già, trí nhớ không tốt, chuyện kể có chi sai sót, mong quý thầy cô và các học sinh thông cảm, bổ khuyết.

Mong mọi người lên tiếng, chia xẻ những kỷ niệm về trường; ai cũng cao tuổi rồi, ôn lại chuyện cũ, âu cũng là niềm vui trong lúc nhàn rỗi!

Hoàng Đằng

31/10/2012

Advertisements

Hop Mat Lien-truong

Xin mời các bạn đã tham dự Hội Ngộ Liên Trường tại Đông Hà ngày 22-6-2012 tóm lược cuộc họp mặt và đăng trên trang này.

Xin cho biết tên của các bạn và thầy cô trên hình?

Cam on ban NGUYỄN ĐỨC TRỰC  da cho vao ten tuoi trong hinh nay.

Từ trái sang phải:

  1. Phan Thị Kim Nhung: Trước chồng dạy toán giỏi có tiếng ở trường cấp 3 Đông Hà, nay đã nghỉ việc.
  2. Nguyễn Cần (Đã đổi tên là Hải): Hiệu trưởng trường cấp 2 như bạn Thạch. Đại gia vùng Bình Thuận.
  3. Thầy Đang trước đây dạy trường Bồ Đề Đông Hà.
  4. Đứng ló mặt phía sau mình nhìn không rỏ lắm. Hình như không phải lớp mình mà là hoặc Châu, tay đàn trong đội văn nghệ phường 5 trước đây; hoặc Nguyễn Ngọc Phúc, lớp dưới; ở khu phố 2, phường 1.
  5. Dư Thị Lan Phương: Nhà nữ doanh nghiệp độc thân. Chủ cơ sở may mặc tại Sài gòn hòn ngọc viễn đông.
  6. Hi hi!Lớp phó.
  7. Thầy Thiêm hiền lành.
  8. Ngô Thị Bình (Sau lưng thầy Thiêm).
  9. Nguyễn Thị Ba: Chủ quày áo quần may sẳn ở tầng 2 chợ Đông Hà. Chồng là giáo viên đã về hưu nhưng còn trẻ, đẹp trai và hiền lành lắm. Thiết kế nhà tân tiến, vườn rộng; được xem là không gian đẹp của thành phố Đông Hà. Bọn mình thường mượn nơi này để tụ tập.
  10. Phan Thị Hạnh .
  11. Mình (là Trực).
  12. Tôn Thất Tân. Luôn bận rộn với công việc làm ăn , lai láng tình cảm với bạn bè lắm.
  13. Nguyễn văn Minh (Sau lưng Bình).
  14. Nguyễn Quy (Đứng cạnh Minh).

2 nhân vật ngồi là Trần Khắc Tuấn và Lê Hường (Tích cực trong công việc kết nối bạn bè lắm).

Từ trái qua phải:

  1. Nguyễn Văn Minh: Dạy kèm toán tại nhà, vợ buôn bán ở chợ.
  2.  Phan-thi Hanh. Hạnh là Hiệu trưởng trường mầm non công lập Hướng Dương vừa mới về hưu. Nay đã mỡ trường mầm non tư thục do còn quá yêu trẻ và yêu nghề.
  3. Trần Khắc Tuấn: Ngoài công việc làm của bản thân mình thì còn giúp vợ quản lý quày hàng tạp hóa, bánh kẹo lúc vợ vắng nhà mà khách hàng chủ yếu là học sinh do nhà gần trường học.
  4. Lê Hường(nay đã đổi tên là Phương): Giáo viên trường THCS Nguyễn Trải. Bà xã thì đứng quày thuốc tây.
  5. Thầy hiệu trưởng Phạm Đăng Thiêm: Trí nhớ  of thầy tốt thật.Đến nay, sau 40 năm mà vẫn còn nhớ tên học trò. Nghe thầy gọi tên, mình xúc động lắm!
  6. Hihi! Lớp phó tham ăn. Liên hoan lớp 8, bàn tay phải dấu dưới mặt bàn vì đã nắm đầy cả đống vậy mà tay trái còn vói đến dĩa đến nỗi LP né người ra xa, còn Quế thì chống tay nhìn sững, Toàn lại lắc đầu than!
  7. Mình. Thằng mà Toàn cho là hiền nhất lớp đó. Nguyễn Thị Ba cũng hay nói mình như vậy.
  8. Nguyễn Quy: Trưởng phòng Giáo dục huyện Cam Lộ và hiện nay đã chuyễn sang phòng Thương binh xã hội.

Hop Mat 2007

 

Đông chào các Bạn !
Vào Năm 2007 Đông về Thăm gia đình ,mà mục đích là về Mẹ ( mạ Đ cũng lớn tuổi rồi )
Mà cũng Tình cờ là ” Diệp Ái Hà ” cũng về vào thời điểm đó luôn .
Tiện đây ! Đông cám ơn B Hà , đã tạo cho cơ Hội ,để 9 Bạn gái của lớp được gặp nhau ,Hàn huyên ,tâm sự , suốt một đêm không ngũ ,thật là vui .
Kỷ niệm nầy , chắc mãi mãi không bao giờ quên .

 

Từ trái sang phải : Phù t Hà ,Ngô t Bình ,N t Đông ,D Ái Hà ,C t Ngân Hà ,Dư t Lan Phương ,Lê t Mai ,( phái trên ) N t B Hà .
Các Bạn thấy B Hà lo Chu Đáo chưa ,cho ăn đủ móm .

 

Trái sang phải:Sen, L.Phương, Mai, Bình, phía sau B.Hà

 

Cho cụng ly với!!

Kỷ niệm một đêm Không Ngũ: Nói chuyện gì vậy??

DongNguyen, LanPhuong va HoDai(Phuoc)

Ban tre CLDH xin chao 3 ban da den voi hoi tre ConglapDH!!

LPhuong la tay phai cua Bha, luc do gia dan va nghiem chinh. Dong co khuon mat de thuong hay cuoi hay di chung voi Aiha…Dai (Lphuoc) hoc rat hay co tinh than van nghe.. Bay gio cac ban co con tinh net ngay xua ? Chia vui voi CLDHa. O  Saigon va Texas bay gio co am khong?.   Hom nay Minnesota bi anh huong Hurricane Sandy nen gio manh va hoi lanh.

Than chao niem vui doan ket tinh huu nghi CLDH.

NToan

Mung Truong Em

Mừng trường em                                                                            

 

Năm 1970, bạn Nguyễn đức Trực đã làm bài thơ này.Lời thơ tuy mộc mạc, không bóng bẩy nhưng Bích hà nghĩ bạn Trực đã nói thay chúng ta nổi vui mừng khi không còn mượn trường để học.

Cám ơn thầy Hiêu trưởng Phạm đăng Thiêm đã làm điều kỳ diệu đó cho chúng em.

Trước sân vận động Đông hà,

Giờ sân trường học rõ là rộng thênh.

Phơi mình cỏ tắm nắng hanh,

Bởi cây đâu có che thân cỏ mềm.

Trải bao biến đổi thăng trầm,

Trường nay tọa lạc trên nền đất xanh.

Trời mênh mông, nắng mong manh;

Có đàn chim nhỏ chuyên cần đậu đây.

Ngày ngày có bạn có thầy,

Có tình áo trắng đong đầy yêu thương

 

Trường em chữ nhất bốn phòng,

Một phòng thầy giáo,ba phòng học sinh.

Tuy chưa cảnh vật hữu tình,

Nhưng em vẫn thấy trường mình cũng xinh.

Tuy chưa nổi đám nổi đình,

Nhưng em vẫn thấy trường mình ấm hơn.

Gió vui hí hửng, gió mơn,

Gió luồn khung lưới vách trên vào phòng.

Gió vuốt tóc, đuổi oi nồng;

Trường em tô điểm cho hồng tuổi thơ.

 

Nhiều năm rối rắm như tơ,

Mượn lui mượn tới nương nhờ lắm nơi.

Bây giờ mới thật tuyệt vời,

Hân hoan hét toáng “ Trường ơi ơi trường”

Ghi-Danh

Xin ban cho vao ten tuoi va dia chi de Hoi Ai Huu Cong Lap Dong Ha lien lac va trao doi voi ban.

Hop mat Phan Thiet

Hoang Ngoc Chau cho mot vai tom luoc sinh hoat cua ban be tai Phan Thiet.